Mười hai con giáp hình thành từ đâu?

Nhắc đến mười hai con giáp thì ai cũng biết nó bao gồm những con gì, thậm chí những đứa trẻ cũng có thể trả lời. Tuy nhiên chúng xuất xứ từ đâu có phải từ Việt Nam hay không, quá trình hình thành như thế nào thì không phải ai cũng nắm được. Trong bài chia sẻ dưới đây chắc chắn sẽ giúp bạn hiểu hơn về vấn đề này.

Mười hai con giáp là một hiện tượng phong tục dân gian đặc thù của Trung Quốc có tên gọi là “Thập nhị sinh tiêu” (hay còn gọi là Thuộc tướng). Và thuộc tướng ghép vào tuổi con người chỉ có ở Trung Quốc, nước ta và Nhật Bản là 2 trong số các nước chịu ảnh hưởng vấn đề này nhiều nhất. Đối với các nước khác trên thế giới thì hầu hết chỉ ghi chép năm tháng bằng 12 con thú gần giống như vậy mà thôi.

12 con giáp
Quá trình hình thành mười hai con giáp

Mười hai thuộc tướng này cụ thể là: Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi có quan hệ với mười hai địa chi. Và 12 địa chi này lại phối hợp với mười thiên can cụ thể là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quý  để hình thành nên 60 giáp tí dùng ghi trong ngày tháng mà chúng ta vẫn thường thấy. Ngoài ra, trong văn hiến thời Tiên Trần đã có những dấu vết đối ứng giữa những loài động vật với các kí hiệu cá biệt. Ví dụ, Tả Truyện – Tương công thập tứ niên chép việc của nước Tần sai đi giết quý tộc Khánh Hổ và Khánh Dần, ở đây Hổ và Dần đều chỉ con cọp, thuyết minh Hổ và Dần đối ứng. Đây là một trong những tập quán cổ cha con hoặc anh em có tên khác nhau những ý nghĩa giống nhau. Với những thông tin này có thể cho thấy quan hệ đối ứng giữa mười hai địa chi và mười hai loại động vật là được xác lập từ rất lâu đời. Và tới bây giờ thì liên quan đối ứng đó vẫn hoàn toàn giống nhau.

Quan hệ đối ứng giữa mười hai địa chi và mười hai động vật

Quan hệ đối ứng giữa mười hai địa chi và mười hai động vật bắt nguồn từ sự tín ngưỡng sùng bái động vật của người thượng cổ. Những vị thú thần (thần động vật) được ghi chép khá nhiều trong Sơn Hải Kinh . Nếu để ý bạn sẽ thấy những loài động vật này không hề tồn tại trong tự nhiên mà chúng là do động vật hợp thể với người mà hình thành. Tuy nhiên, nếu xét về chủng loại thì những động vật này không nằm ngoài những con thú như: rồng, dê, trâu, hổ, heo…  Trong những con vật này duy nhất chỉ có rồng là có tính thần bí, còn lại đều là những con vật bình thường đặc biệt hơn là gần gũi với tới sống của con người.

Tất cả các loài động vật mà con người tiếp xúc là rất nhiều, nhưng người xưa chỉ chọn ra một số loài để sùng bái. Lí do duy nhất ở đây có thể là những con vật này có quan hệ mật thiết đối với con người. Mối quan hệ ở đây được chia làm hai đối tượng rõ rệt. Một đối tượng bị săn bắn như : Ngựa, Trâu, Dê, Chó và sau này được người thời cổ đại thuần dưỡng chúng vừa là thực phẩm vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng. Đối tượng thứ hai là những loài động vật đáng sợ, thường sẽ là uy hiếp đến tính mạng con người như : Hổ Báo, Rắn. Và điều đặc biệt ở đây là những loài động vật này phần lớn được liệt kê vào mười hai thuộc tướng và mười hai địa vị mà chúng ta đang tìm hiểu.

12 con giáp
Khởi nguồn mười hai con giáp

Thuyết âm dương ngũ hành trong tín ngưỡng thời Trung Quốc cổ đại

Âm dương ngũ hành là vấn đề được rất nhiều người quan tâm, nó là một phạm trì triết học tự nhiên thời cổ đại của Trung Quốc. Đây được xem là khởi điểm của tư duy triết học thời cổ xưa vẫn ảnh hưởng cho đến bây giờ.

Theo căn cứ vào tư liệu văn hiến còn lại hiện nay thì Âm Dương và Ngũ Hành vốn là hai quan niệm hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, hai khái niệm này thực ra được tìm thấy nguồn gốc từ thời xưa, thậm chí là ở những niên đại xa hơn nữa. Căn cứ vào giáp cốt văn, có thể thấy khái niệm Ngũ Hành ra đời trước khái niệm Âm Dương.

Quan niệm Ngũ Hành ra đời trong qua trình tìm hiểu khởi nguyên của thế giới,  các hoạt động nhằm thích ứng và thay đổi tự nhiên, theo sự tích lũy của con người cổ đại dần manh nha một cách nhìn về tự nhiên, hình thái đầu tiên của chúng. Giới học thuật đã có các thuyết liên quan tới vấn đề ra đời của Ngũ Hành. Các thuyết đó là Ngũ Tự, Ngũ Tinh, Ngũ Phương, Ngũ Số, nghe có vẻ ai cũn thấy chúng khác nhau nhưng vẫn có một điểm chung đều được lập thuyết bằng con số Năm hay còn gõi là “Ngũ”. Đây cũng là một xuất phát từ một loại tính ngưỡng sung bái con số trong văn hóa, thời kì đầu của Trung Quốc.

Quan niệm Ngũ Hành khởi đầu cùng một lúc với sự nghiên cứu, quan sát thiên tượng của con người. Đầu tiên có lẽ là việc khảo sát các ngôi sao , xem sự vận hành và phản ảnh của chúng từ đó bắt chước theo 5 loại vật chất cơ bản dưới đất hình thành thuyết vận hành của 5 ngôi sao (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa , Thổ). Ngũ hành là đại biểu cho năm loại vật chất, đồng thời cũng là đại biểu cho 5 tác dụng cơ bản, công năng, thuộc tính và hiểu quả.

“Âm Dương gia thịnh hành là xuất xứ từ quan Hi Hòa và lòng kính thuận trời cao” Sách Hán Thư – Nghệ Văn Chí viết. Quan niệm Âm Dương cũng được ra đời trong quá trình quan sát thiên tượng và khí hậu. Đối với thời Tây Chu thì quan niệm Âm Dương được đùng để giải thích biến hóa của bốn mùa và cũng coi đó là những điều tai dị trái lẽ thường của tự nhiên nếu âm dương không điều hòa.

Quan niệm Âm Dương xuất hiện, điều này chứng tỏ người xưa đã đa dạng hóa Ngũ Hành đơn giản trước đó và đang bước vào giai đoạn nắm được quy luật thống nhất đối lập của sự vật.

Ngũ Hành áp dụng vào thực tiễn

  1. Ngũ Hành sinh khắc

Ngũ hành sinh khắc
Ngũ Hành áp dụng vào thực tiễn

Người ta nhận thấy cuộc đời, nhân thế đều do sự chuyển dịch của các hành tinh, luật ngũ hành sinh khắc trong vũ trụ. Đó là 5 thành phần chính yếu Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ theo định luật như sau:

Ngũ hành tương sinh:  Đây là một mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng phát triển chúng bao gồm: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Luật tương sinh trong ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ trên hai phương diện: cái sinh ra nó và cái nó sinh ra.

Ngũ hành tuơng khắc: Kim Khắc Mộc, Mộc Khắc Thổ, Thổ Khắc Thủy, Thủy Khắc Hỏa, Hỏa Khắc Kim. Khắc có nghĩa là áp chế lẫn nhau và đặc biệt mỗi hành cũng lại có hai mối quan hệ là cái khắc nó và cái nó khắc.

Hai hiện tượng này không tồn tai độc lập với nhau có nghĩa là trong tương khắc luôn có mầm mống của tương sinh và ngược lại cũng vậy. Chính vì thế chúng ta có thể thây vạn vật luôn luôn tồn tại và phát triển song song với nhau.

  1. Thiên Can và Ngũ Hành

Thiên can và ngũ hành là hai vấn đề về phong thủy được rất nhiều người quan tâm. Mỗi người theo phong thủy đều có can chi của riêng mình và phản ánh lên số mệnh. Phương Tây là vị trí của canh Tân thuộc Kim. Phương đông là vị trí của Giáp Ất và thuộc Mộc. Phương bắc là vị trí của Nhâm Quý thuộc Thủy. Phương nam là vị trí của Bính Đinh thuộc Hỏa. Trung ương là vị trí Mậu Kỷ thuộc Thổ.

  1. Địa chi và ngũ hành

Như chúng ta đều biết, tuổi tác của mỗi con người chúng ta đều nằm trong định luật của Âm Dương. Tạo ra con người để sống, tranh đấu và trả nợ đời. Âm dương, Ngũ hành, Địa chi đều có tính cách riêng biệt của Ngũ hành. Ngũ Hành của Tí thuộc Thủy là con chuột, Ngũ Hành của của Sửu thuộc Thổ là con Trâu, của Mão thuộc Mộc là con Mèo (Trung Quốc sẽ là con Thỏ), của Thìn thuộc Thổ là con Rồng. Ngũ Hành của Tị thuộc Hỏa là con Rắn, của Ngọ thuộc Hỏa là con Ngựa, của Mùi thuộc Thổ là con Dê. Ngũ Hành của Thân thuộc Kim là con Khỉ, của Dậu thuộc kim là con Gà. Ngũ Hành của Tuất thuộc Thổ là con chó và cuối cùng của Hợi thuộc Thổ là con Heo.

  1. Ngũ hành và các cung sinh, vượng, mộ, tuyệt

Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt là 4 cung thuộc vòng  12 cung.

Mùa xuân:  Mộc vượng, hỏa tướng, Thổ tử còn Thủy và kim ở vào thế hưu tù

Mùa hạ: hỏa vượng, thổ tướng, kim tử còn thủy và mộc ở vào thế hưu tù

Mùa thu:  Kim vượng, thủy tướng, mộc tử còn hỏa và thổ ở vào thế hưu tù

Mùa đông:  Thủy vượng, mộc tướng, hỏa tử còn thổ và kim ở vào thế hưu tù

Mọi thứ cứ như vậy mà tuần hoàn theo thời gian. Về mối quan hệ giữu ngũ hành và các cung này cụ thể như sau:

– Kim sinh trưởng ở Tị, vượng ở Dậu mộ ở Sửu, Tuyệt ở Dần

– Mộc sinh trưởng ở Hợi, vượng ở Mão, mộ ở Mùi, tuyệt ở Tị

– Hỏa sinh trưởng ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất, tuyệt ở Hợi.

 

comment